Bài khóa 1 : Nguyên thủ khóa

Phàm quẻ xem trong Tứ khoá, chỉ thấy có một khóa Khắc mà thôi, ba khóa còn lại đều là khóa Sinh, khóa Tỷ, nhưng không có khóa Tặc, thì gọi là: Nguyên thủ khoá.

  1. Lấy Sơ truyền: dùng chữ trên của khóa Khắc để làm Sơ truyền.
  2. Lấy Trung truyền: tìm đến cung địa bàn nào có cùng một tên với Sơ truyền, rồi dùng chữ thiên bàn đã có sẵn trên cung địa bàn đó để làm Trung truyền (do tên của Sơ truyền mà biết chỗ lấy Trung truyền).
  3. Lấy Mạt truyền: tìm đến cung địa bàn nào có cùng một tên với Trung truyền, rồi dùng chữ thiên bàn đã có sẵn trên cung địa bàn đó để làm Mạt truyền (do tên Trung truyền mà biết chỗ lấy Mạt truyền).
trích Lục Nhâm đại toàn / Bùi Ngọc Quảng

Phân tích quẻ

Lấy Sơ truyền: trong Tứ khóa của quẻ mẫu trên, chỉ có một khóa 4 là khóa Khắc, vì chữ trên thiên bàn Ngọ thuộc hoả khắc dưới chữ địa bàn Dậu thuộc kim, 3 khóa còn lại đều là khóa Sinh, không có khóa Tặc, nên quẻ này gọi là Nguyên thủ khóa. Chữ trên của khoá Khắc là Ngọ, vậy dùng Ngọ làm Sơ truyền.

Lấy Trung truyền: do Sơ truyền mà lấy Trung truyền, Sơ truyền là Ngọ thiên bàn, nên tìm tại cung Ngọ, nhưng là cung Ngọ địa bàn. Trên cung Ngọ địa bàn này có sẵn chữ thiên bàn Mão. Vậy dùng Mão làm Trung truyền.

Lấy Mạt truyền: do Trung truyền mà lấy Mạt truyền, Trung truyền là Mão thiên bàn, nên phải tìm tại cung Mão, nhưng là cung Mão địa bàn, ta thấy có sẵn chữ thiên bàn Tý. Vậy dùng Tý làm Mạt truyền.

Theo Lục hào toán lệ: can ngày Giáp thuộc mộc sinh Sơ truyền Ngọ hoả, nên hào tượng của Sơ truyền là hào Tử tôn. Trung truyền Mão mộc đồng cùng ngũ hành với can ngày Giáp mộc, nên hào tượng của Trung truyền là hào Huynh đệ. Mạt truyền Tý thủy sinh can ngày Giáp mộc, nên hào tượng của Mạt truyền là hào Phụ mẫu.

Khi đã tính hào tượng cho Tam truyền xong, ta tìm Thiên tướng theo thiên bàn của Tam truyền: Sơ truyền Ngọ thừa thanh long. Trung truyền Mão thừa Chu tước. Mạt truyền Tý thừa Thiên hậu.

Lời giải đoán theo Khóa thể

Khóa thể là tên chính của khóa. Quẻ này thuộc về Nguyên thủ khóa, là khóa đứng đầu các khóa, được sự tốt to lớn, cho nên Vận nhân phải là hạng thượng lưu, có quan có chức. Tam truyền Ngọ – Mão – Tý cũng thuộc về Hiên cái khóa, nên người đến Chiêm hỏi ở ngôi công khanh. Can Giáp và Sơ truyền Ngọ đều được vượng tướng khí, lại thừa Thái âm và Thanh long đều là cát tướng, cũng thuộc về Tam quang khóa, ứng điềm vận nhân được lên chức lên lương. Quẻ vốn là Nguyên thủ khóa, lại có thêm những quý khóa, vậy luận về danh vọng thì tốt chẳng kể hết. Như vậy, quẻ này ứng cho một tri thức đến hỏi, chñ yếu về việc của con cháu thi cử, cầu quan chức. Sở dĩ đoán như vậy vì Sơ truyền là chỗ khởi dụng đầu tiên, rất thường ứng việc đang toan tính của Vận nhân. Quẻ thấy Sơ truyền tác Tử tôn tất ứng việc con cháu. Sơ truyền thừa Thanh long là sao ứng về vụ quan chức, là điềm con cháu thi cử ra làm quan, hay cầu địa vị. Thêm nữa, Hành niên ở tại Mùi địa bàn có Thìn thừa Thiên hợp cũng ứng điềm như vậy, bởi Thìn là thần Khôi cương ứng về thi cử, Thiên hợp là sao ứng về con cái. Hành niên ứng việc xảy ra trong Năm hiện tại.

Khi Vận nhân hỏi tổng quát mọi việc thì phải quan sát cả Lục xứ và Hành niên mà đoán. Theo quẻ mẫu này thì tại Can và Bản mệnh ứng các việc của vận nhân muốn rõ, cả Tam truyền ứng tổng kết về việc chính của vận nhân muốn biết, tức công danh sự nghiệp của người con. Giải đoán từng hạng mục như sau:

Can là biểu tượng cho bản thân của vận nhân. Chiêm quẻ vào mùa Xuân nên can Giáp mộc được vượng khí, là điềm quan nhân được kiến nhận quan chức. Giáp thừa Hợi tức thừa Trường sinh, tháng Giêng chiêm quẻ thì Hợi thừa Thiên chiếu, đó là điềm được bề trên chỉ định mời đến quan thự, do học lực xứng đáng ở trốn học đường, nên được tuyển chọn, bổ nhiệm đi làm quan vậy.

Bản mệnh cũng ở tại cùng một cung với can Giáp, cũng ứng cho vận nhân là hạng quan quyền sang trọng

Chi là ngày chiêm quẻ, biểu tượng cho gia trạch của vận nhân. Quẻ thấy Chi Tý thừa Dậu thiên bàn, là tượng của sao Thái âm, là tượng cho Phụ nữ và thừa thiên tướng Thái thường, chủ sự uy vũ. Nên đoán rằng trong nhà vận nhân có người phụ nữ thông minh tháo vát, giỏi võ hay sánh duyên với gia đình võ biền có công danh đáng tôn trọng, lại đem nhiều lợi ích cho cha mẹ. Người phụ nữ này có thể đoán là con hay con dâu của vận nhân.

Thái thường thổ sinh Dậu kim, Dậu kim lại sinh Tý thủy, đó là gia trạch được sinh nhập, cũng như từ bên ngoài mà đem lợi ích vào trong nhà, nên gia đạo của vận nhân rất sung túc, người trên yêu kẻ dưới, thuận hoà, nhà thường hay có lễ tiệc vui vẻ (Thái thường).

Sơ truyền ứng vào khoảng đầu của đời người hay của một sự việc. Đó là nơi khởi dụng, bắt đầu động, thường ứng nguyên nhân của sự việc mà vận nhân muốn biết (Tuy vậy cũng nên hỏi rõ người xem về việc gì để đoán cho đích xác). Sơ truyền Ngọ tác Tử tôn thừa Thanh long tất vận nhân muốn hỏi điều may rủi của người con cầu quan hay thi cử.

Sơ truyền Ngọ đã được vượng khí lại thừa cát tướng ắt phải có kết quả tốt. Vậy nên đoán đến năm Tị Ngọ hay năm Bính Đinh, hoặc đến mùa Hạ thì thi đỗ, vì Ngọ thuộc Hoả nên phải đợi đến thời kỳ cũng thuộc Hoả thì Ngọ mới được vượng khí, khi vượng tướng khí thì ứng được quan chức hay thi đỗ. Có thể đoán Sơ truyền là Ngọ, thì đến năm Ngọ, hay tháng Ngọ có kết quả tốt, như vậy cũng không ngoài thời kỳ vượng khí như đã luận.

Sơ truyền là Ngọ hỏa sinh Mùi thổ, nên năm Ngọ thi đỗ kỳ nhất, sang năm Mùi thì đậu Tiến sĩ (Ngọ sinh Mùi tức như nhờ sự thi đỗ của năm Ngọ mà sinh ra sự thi đỗ của năm Mùi. Ngọ cũng sinh Tuất Sửu Thìn mà lại không luận? Bởi đến năm Tuất Sửu Thìn mới thi đỗ nữa thì phải cách 4, 7 hay 10 năm. Quẻ vốn rất tốt thì không lý nào lâu như vậy, hơn nữa Hành niên đóng ở cung Mùi địa bàn, thì ứng cho năm Mùi là đúng lý hơn cả). Cung Mùi có thừa Thìn thiên bàn, theo lý chỉ đỗ bậc Á khôi, nhưng vì Mùi và Thìn đều được Ngọ sinh, lại thừa Thiên hợp là cát tướng, Mùi với Ngọ là Lục hợp, nên đoán là thi đỗ bậc nhất (Thìn là ngôi sao Đẩu, cầu về khoa danh mà gặp nó thì rất tốt, còn gọi Thìn là Long khoa, ám chỉ vào sự thi đỗ).

Sơ truyền Ngọ thuộc Hoả, mà loại Hoả thì có tính oai nghi, chỉnh tề và lễ pháp, ứng cho người con sau khi thi đỗ, người con được bổ vào làm cơ quan Lễ bộ, làm quan chuyên quản về lễ nhạc, cúng tế trong nước. Hoả lục cục, là số cao nhất trong ngũ hành, có tính thượng thiên, bao giờ cũng muốn vươn lên cao, nên được đứng đầu trong hàng Lễ bộ, tức là sẽ thăng tới chức Lễ bộ thượng thư.

Sơ truyền Ngọ thuộc số 9, lâm Dậu địa thuộc số 6, thừa Thanh long thuộc số 7, nhưng Sơ truyền Ngọ được Tướng khí nên mỗi số phải thêm 10 là 19, 16 và 17, tổng của 3 số này được 52. Số 52 này ứng cho người con làm quan tới 52 năm hay 52 tuổi mới về hưu. Ngày Giáp Tý chiêm quẻ nên Sơ truyền Ngọ là tuần Canh, mà Canh thì khắc can Giáp, vậy Sơ truyền Ngọ có ẩn hào Quan, rất ứng hợp vào vụ cầu quan chức của người con.

Trung truyền ứng về khoảng giữa, quẻ này Mão vừa là Chủ truyền(1) vừa là Trung truyền nên rất quan trọng, ứng vận giữa đời của con người. Trung truyền Mão thừa Chu tước và lâm Ngọ địa. Nhờ Mão mộc sinh nên Chu tước hoả được tướng khí là điềm hưng thịnh. Chu tước lại lâm Ngọ địa tức là lâm chính vị. Chu tước chủ về văn chương được tướng khí lại lâm chính vị nên ứng vào thời kỳ nhờ văn chương chủ nghĩa mà công danh được rạng rỡ, là giai đoạn đỉnh cao nhất trong đời, vì Mão gia Ngọ là chỗ tột bậc của khí dương, như sự cao sáng của mặt trời trong giờ Ngọ vậy.

Mão thuộc số 6, Chu tước thuộc số 9, cộng lại được 15, như vậy người con được hưởng 15 năm ở địa vị cao cả nơi quan trường. Giai đoạn này ứng tại Trung truyền, tất thuộc về trung vận hay khoảng giữa cuộc đời.

Mão làm chủ Tam truyền, ngày Giáp thì Mão thừa Dương nhận, nên ứng điềm người con bị phong tật. Bởi Mão thuộc mộc ứng với Gan thừa Dương nhận tức như mũi dao nhọn xuyên chọc nên Gan bị bệnh nên chứng phong hiện bệnh.

Mạt truyền ứng về lúc kết cuộc. Mạt truyền Tý vốn là nguyệt tướng tức là Thái dương, là mặt trời chủ sự cao cả huy hoàng và danh dự. Tý lại thừa sao Thiên hậu chủ về ân huệ. Như vậy Mạt truyền ứng cho người con đến lúc đã về hưu rồi mà vẫn còn được Chính phủ thỉnh triệu làm việc thêm, cũng như được lưu dùng, được tăng thêm một phẩm quan, hay được tặng huy chương, đó là danh dự và ân huệ.

Tý số 9, Thiên hậu cũng số 9, như vậy 9 lần 9 là 81, người con sẽ sống tới 81 tuổi mới mãn phần, bởi Mạt truyền ứng về lúc kết cuộc, cũng tức là khoảng cuối cùng cuộc đời.

Quẻ mẫu này ứng rất nhiều điểm tốt, nhưng nó cũng biến thể nếu chiêm nhằm ngày Sóc là ngày mồng một, Thượng huyền ngày mùng 8, Vọng ngày 15 (Rằm) Hạ huyền ngày 23, và Hối là ngày cuối tháng thì quẻ biến thành quẻ Thiên phiền khoá, tất không được tốt như những lời đã giải đoán. Trong toàn bộ Tập 3: Khóa kinh tập này, những thí dụ mẫu quẻ đều không luận là Nguỵệt tướng nào, mà dùng Tý thiên bàn làm chuẩn đích để gia lên một cung địa bàn làm mẫu, ví dụ Tý thiên bàn gia lâm Mão địa bàn là tự nhiên thuộc về Nguyên thủ khóa.

Lý đoán Nguyên thủ khóa

Nguyên thủ có nghĩa là năng lực sáng tạo tiến bộ không ngừng, trọn vẹn, to tát, đứng đầu và cao cả. Trong Tứ khóa không có khóa Tặc, có ý nghĩa như trong một quốc gia không có đạo tặc, trộm cướp, giặc giã. Chỉ có một khóa Khắc, cũng như chỉ có một vị chúa tể đứng đầu, khắc trị dân chúng mà thôi, không có kẻ tranh ngôi. Các khóa còn lại toàn là tương sinh tương tỷ, cũng như toàn thể dân sự đều hoà hợp nhau mà sinh dưỡng tương trợ nhau. Không có khoá Tặc mà chỉ có một khóa Khắc, thì khóa Khắc ấy ám chỉ vào người xứng đáng đứng đầu, có đức vọng to tát, dùng năng lực của mình để thức tỉnh và khai triển phẩm chất tốt đẹp nơi mọi người, bởi vậy gọi là Nguyên thủ khóa.

Nguyên thủ khóa có lời Tượng: Đứng đầu và cao cả, có kết quả to lớn và hoàn toàn như trong lúc Trời Đất được ngôi. Mọi vật đều tươi sáng, hàm chứa sự mới mẻ, huy hoàng. Lại cũng ứng vào lúc quốc gia đang hưng thịnh, chúa tôi thuận trị, cha con thuận đạo, hôn nhân hợp hoà, thai sản con trai, buôn bán xuất xắc, quan chức đứng đầu, cầu quý nhân được lợi to, gặp hoặc giao thiệp với người lớn thì có lợi lớn. Mọi sự tốt xấu đều có sự thật. Sự việc do bên ngoài khởi lên, do người nam chủ động. Các việc cạnh tranh nhau như kiện thưa, chinh chiến, đấu đá… thì khách thắng mà chủ bại , trên hơn dưới, lớn chế nhỏ.

Nguyên thủ khóa là quẻ tốt bậc nhất, đứng đầu các khóa, đầy đủ mọi sự cao cả, hanh thông, cát lợi và chính bền. Là quẻ 6 con Rồng ngự trên trời, có tượng là luôn luôn chủ động, cứng mạnh, tích cực không biết mệnh mỏi, rộng lớn và bao dung (Quẻ Bát thuần Kiền). Động tĩnh cuả thời vận thịnh, trong mọi công việc triển khai, không bị cản trở bởi bất kỳ yếu tố sự vật nào, vì năng lực sáng tạo nguyên thủy và vĩ đại. Nhưng cũng không thể đắc ý thái quá, phải lấy sự thận trọng làm cốt yếu, vì khi đạt đến đỉnh điểm là bước đầu tiên của quá trình suy thoái. Đạo của Càn là phải thay đổi thuận ý theo thời cơ, để cho thiên tính của vạn vật bộc lộ rõ ra, như vậy mới có được tác dụng thuận lợi và lâu dài, ứng đạo này có thể đến với muôn dân mà trị thiên hạ.

Nguyên thủ khóa thấy Can, Sơ truyền, Niên Mệnh vượng tướng khí, hoặc thừa vượng tướng khí (là nói chữ Thiên bàn, thí dụ chiêm quẻ mùa Xuân, thấy can Kỷ thừa Dần hay Ngọ thiên bàn, thì nói can Kỷ thừa vượng tướng, vì mùa Xuân thì Dần được vượng và Ngọ được tướng khí, còn chính can Kỷ thì bị Tử khí là việc khác), lại thừa cát tướng và có lẫn cát khóa, thì ứng điềm tốt vô cùng, có tượng Rồng bay lên trời, được lợi ích trong sự gặp thấy người lớn. Lại cũng ứng cho hạng người danh vọng cao cả, mây Rồng gió Hổ cùng theo (Kiền Cửu ngũ).

Nguyên thủ khóa vốn tốt, nhưng nếu Can, Sơ truyền bị hưu – tù – tử khí, thừa hung tướng lẫn với hung khóa, thì cũng ứng điềm bất lợi, như thời kỳ Rồng đang lặn, không nên động dụng tới bất cứ sự việc nào, đợi thời cơ mà phát triển (Kiền sơ cửu).

Nguyên thủ khóa sở dĩ tốt đứng đầu là vì được thuận lý. Thuận lý là bởi khóa được trọn làm Sơ truyền có chữ trên khắc chữ dưới. Trên khắc trị được dưới như Chúa trị được tôi, Quan trị được dân, chồng dậy được vợ, cha bảo con nghe, chủ rày tớ sợ. Bậc chúa tể như hàng Tổng thống, Thủ lĩnh mà chiêm gặp quẻ này thì đời thịnh trị, không bị bọn dưới mưu phản, dẹp phá được giặc loạn, gặp được trung thần, an được bọn nịnh thần. Quan chức chiêm quẻ này thì gặp được minh quân, còn đối với thường dân thì sinh kế thuận lợi, mưu vọng hoàn thành. Nên nhớ, thường dân chiêm chỉ gặp độc một Nguyên thủ khoá mới tốt, còn như có thêm Quý khóa nữa thì trái lại gặp họa hoạn, không khác chi người bình thường mà ngôi bậc quá cao, cũng như dân dã nay đến cửa công quyền ắt có bị trách phạt, chứ không phải được thăng quan, tấn tước như hàng quý phái, quan chức.

Nguyên thủ khóa ứng sự tốt là luận theo khóa thể, nhưng còn một điều kiện cần nhất là phải xem xét tại hai chữ Thiên bàn và Địa bàn của Khóa được trọn làm Sơ truyền. Nếu thấy chữ Thiên bàn được vượng – tướng khí, còn chữ địa bàn bị hưu – tù – tử khí, thì quẻ mới đúng vào chính thể và mới thật là tốt. Đó là trên khắc dưới, mà trên mạnh dưới yếu thì dưới mới chịu phục tùng, con mới chịu nghe cha, tớ mới tùy theo chủ. Trái lại, chữ Thiên bàn bị hưu – tù – tử khí, còn chữ Địa bàn vượng – tướng khí, đó là trên yếu dưới mạnh, thì dưới chưa chắc đã phục tùng, có thể xẩy ra điều cưỡng phản, như con nghịch cha, vợ bội chồng,… Quẻ như vậy còn thêm chữ địa bàn chính là Thái tuế, hay Nguyệt kiến, hay Can thần, Chi thần, Đức thần, Can lộc… thì ứng sự phản nghịch rõ rệt lắm. Vì kẻ dưới đã mạnh, giầu, lại còn thế lực rất to, chẳng lẽ nào lại chịu cho người trên khắc chế. Quẻ như vậy thì đoán ngược lại, chủ thắng khách(2), nhỏ chế lớn, như vậy bậc trưởng thượng, hạng quân tử phải khẩn cấp lắm mới được, đừng cậy cấp bậc lớn mà hành hiếp, mà áp bức kẻ dưới mình, vì sợ không thoát được họa phản nghịch.

Nguyên thủ khóa thấy Sơ truyền là Thìn hay Tuất, thừa hung tướng như Xà, Hổ, Câu, Chu… và Tam truyền hiện ra điềm xấu cũng là quẻ không hay, vì người trên hung dữ, kẻ dưới tay dù chịu phục tùng đến đâu, thì người trên cũng không thoả lòng bạc ác, như đời Trụ Vương: Tôi trung mà gặp vua dữ, như tích ông Cổ Tẩu: con hiền mà mẹ chẳng dung tha.


Chú thích:

(1)Chủ truyền: là truyền làm chủ. Trong Tam truyền có 2 truyền âm và một truyền dương, thì gọi truyền dương là chủ truyền. Còn Tam truyền có 2 truyền dương mà có 1 truyền âm, thì truyền âm làm chủ truyền.

(2)Chủ Khách: mối quan hệ đương đối giữa hai bên, gọi bên chủ động khởi trước là Khách, còn bên bị động đối lại sau là Chủ. Thí dụ như trong việc chinh chiến, thì bên tới công kích trước là Khách, bên thủ là Chủ.

Nothing to say

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *