Bài khóa 62: Liên Châu Khóa

Phàm quẻ thấy Tam truyền là 3 chữ liền cung nhau mà cùng ở một Đại phương thì gọi là Liên châu khóa.

trích Lục Nhâm đại toàn / Bùi Ngọc Quảng

Lời giải: Liền cung nhau là không cách nhau theo 12 Chi: Tý Sửu Dần Mão…

Đại phương: là nói 4 phương chính: Đông, Tây, Nam, Bắc. Phương Đông là Dần Mão Thìn. Tây là Thân Dậu Tuất. Nam là Tị Ngọ Mùi. Bắc là Hợi Tý Sửu. Liền cung thuận hay nghịch cũng được.

Quẻ này Tam truyền Dần Mão Thìn là 3 chữ liền nhau mà cùng ở một đại phương Đông cho nên gọi là Liên châu khóa, từ Dần đến Mão, rồi từ Mão đến Thìn thuận hành nên gọi là Liên châu thuận (Nếu Tam truyền là Thìn Mão Dần thì gọi là Liên châu nghịch).

Lý đoán Liên châu khóa

Liên châu là nhiều hột ngọc xâu dính liền vào nhau, tức là xâu chuỗi ngọc vậy. Tam truyền là 3 chữ liền nhau mà cùng ở một đại phương giống như xâu chuỗi ngọc cùng một chất, cho nên gọi là Liên châu khóa. Dầu Tam truyền là 3 chữ liền nhau, song 3 chữ ấy không cùng ở một Đại phương thì cũng như xâu chuỗi ngọc có lẫn thứ hột màu chất khác loại, như vậy chưa hẳn gọi là Liên châu khóa. Vậy chính Liên Châu khóa chỉ có 8 quẻ, bốn thuận và bốn nghịch. Bốn quẻ thuận Tam truyền là Dần Mão Thìn, Tị Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất, Hợi Tý Sửu. Còn bốn quẻ nghịch là Thìn Mão Dần, Sửu Tý Hợi, Tuất Dậu Thân, Mùi Ngọ Tị.

Liên châu khóa còn có 8 quẻ không chính đáng, vì có khác một chữ. Trong Tứ Quý là Thìn Tuất Sửu Mùi và cũng có bốn quẻ thuận và bốn quẻ nghịch. Bốn quẻ thuận Tam truyền là: Sửu Dần Mão, Thìn Tị Ngọ, Mùi Thân Dậu, Tuất Hợi Tý. Còn 4 quẻ nghịch Tam truyền là: Mão Dần Sửu, Tý Hợi Tuất, Dậu Thân Mùi, Ngọ Tị Thìn.

Lại còn có quẻ như sau gọi là Liên châu khóa: Tam truyền là 3 cái tên của Năm Tháng Ngày liền nhau có thứ tự, không cần phải cùng ở một đại phương. Thí dụ: Chiêm nhằm Năm Mão, tháng Thìn, ngày Tị mà quẻ thấy Tam truyền là Mão Thìn Tị hay Tị Thìn Mão cũng gọi là Liên châu khóa. Ấy là 3 thời gian lớn nhỏ sắp xếp kế tiếp nhau, tượng lý cho một xâu chuỗi có hột lớn hột nhỏ, nhưng xỏ bằng một cách đều đặn, thứ lớp từ hột lớn đến hột vừa vừa, rồi đến hột nhỏ, hoặc ngược lại.

Liên châu khóa cũng gọi là Liên nhự khóa. Liên nhự nghĩa là nhiều rễ dính liền nhau vào nơi một gốc cây như ta thấy khi nhổ lên.

Liên châu khóa có lời tượng:

Âm Dương châu lại nhau, Mạnh Trọng Quý giáp liền nhau cũng là một điềm lạ và bất ngờ. Hỏi sự hung ắt nhiều hung, sự tốt ắt nhiều tốt, tốt hay xấu đều kế tiếp nhau nhiều việc, nhiều lần. Thai sản đẻ năm một, hoặc vừa sinh con rồi liền thụ thai. Chiêm Thiên thời mà nhằm lúc hạn thì còn nắng lâu, nhằm lúc mưa thì ắt còn mưa liên tiếp.

Liên châu khóa là quẻ đãi cát lấy vàng. Cũng gọi là quẻ bên ngoài núi này còn có núi xanh khác, có tượng là quay trở về, đi đi lại lại (quẻ Địa Lôi phục).

Phàm Liên châu khóa mà thấy Tam truyền Hợi Tý Sửu thì gọi là Tam kỳ Liên châu, vì Hợi Tý Sửu là Nhật Nguyệt Tinh, ứng điềm rất tốt. Nếu Tam truyền, mà thứ nhất là Sơ truyền có thừa cát tướng là quẻ rất tốt, tả không hết, có tượng là chẳng chuộng trở về, không hối tiếc (quẻ Địa Lôi phục – Lục ngũ).

Liên châu khóa, chiêm hỏi việc tốt ắt đến tốt, bằng chiêm hỏi việc xấu ắt chẳng khỏi điều hung. Phàm Tam truyền thuận thì nên tiến tới sự việc của mình, nhưng nếu ngộ Tuần không phải thoái lui lại mới khỏi hại đến thân. Bằng Tam truyền nghịch thì nên bình tĩnh thoái lui lại để xuôi theo chiều nghịch, nhưng ngộ Tuần không thì phải tiến tới mới khỏi họa. Phàm thấy Quý nhân thuận hành tất có phương tiện mau thành, bằng thấy Quý nhân nghịch hành việc sẽ có trở ngại, khó khăn, lâu thành.

Liên châu khóa mà thấy Tam truyền ở giữa, còn Can Chi ở khít cung trước và cung sau thì gọi là Can Chi giáp định Tam truyền cách. Thí dụ: quẻ chiêm nhằm ngày Quý Dậu, Nguyệt tướng Ngọ, giờ Tị.

Tam truyền của quẻ trên là Hợi Tý Sửu ở giữa, còn Can Quý và Chi Dậu ở khít cung trước và khít cung sau, ấy là Can Chi Giáp định Tam truyền cách. Giáp định là giáp khít 2 cung trước với sau, có ý không cho cử động, làm cho định c, không cho thoát xuất ra ngoài. Phàm chiêm sự việc chi cũng do tự mình chứ không hệ đến người khác. Chiêm bệnh ắt nặng. Cầu tài, hỏi việc tốt tất được toại ý. Đại khái: cầu hỏi những vụ có tính cách giải ly, thoát xuất, tiêu trừ là quẻ bất thành. Còn chiêm những vụ có tính cách yên định, củng cố kết tụ, trụ lại một chỗ…thì có kết quả tốt.

Phàm quẻ thấy Can Chi giáp định 3 chữ chính của một đại phương, nhưng ở Tam truyền lại thiếu một chữ thì gọi là Giáp định hư nhất cách. Thí dụ quẻ chiêm nhằm ngày Đinh Mão, Nguyệt tướng Tuất, giờ Dậu.

Quẻ này có Tị Ngọ Mùi là 3 chữ của một đại phương Nam ở khoảng giữa, còn Can và Chi ở giáp cung trước và cung sau, nhưng ở Tam truyền chỉ có 2 chữ Tị Ngọ mà thiếu một chữ Mùi. Sự việc tốt xấu ứng tại chữ thiếu đó, cho nên gọi là Giáp định hư nhất cách. Hư nhất tức là thiếu một chữ. Như quẻ thí dụ trên, Tam truyền thiếu chữ Mùi, vậy do Mùi mà đoán. Mùi tác Tử tôn, ứng về việc của con cháu. Và thừa Chu tước lâm Ngọ là thất địa, ứng về ngục tụng hoặc làm mất sót giấy tờ hay văn tự gì đó…ấy là con cháu bị về nạn này vậy. Mùi là chữ cuối trong 3 chữ Tị Ngọ Mùi, cái họa đó xảy ra ở cuối Năm hay cuối Tháng, hoặc xảy ra trong Năm Mùi, Tháng Mùi, Ngày Mùi hay Giờ Mùi. Hư nhất là thiếu một, tất sự việc chi cũng bị thiếu sót, lạc mất, qua loa hoặc có trở ngại một ít, như thiếu Mạnh thần là Dần Thân Tị Hợi thì trở ngại lúc đầu, thiếu Trọng thần là Tý Ngọ Mão Dậu thì ở giai đoạn giữa, bằng thiếu Quý thần là Thìn Tuất Sửu Mùi thì trở ngại ở lúc chót (vì Quý nghĩa là sau cùng). Lại xem chữ thiếu ấy là gì để đoán hạng người, và thừa thiên tướng nào để đoán sự việc xảy ra. Thí dụ: chữ thiếu đó là hào Tài thì ứng về vợ hoặc tiền tài, là hào Phụ thì ứng về cha mẹ hoặc sinh kế, thừa Bạch hổ bị tang thương, thừa Đằng xà có kinh khủng cùng khẩu thiệt, thừa Câu trận sinh thưa kiện…

Phàm Liên châu khóa mà thấy trong 3 chữ của Tam truyền có một chữ ở khoảng giữa Can Chi, lại có một chữ lâm Can hay lâm Chi, và một chữ ăn thấu ra bên ngoài Can hay Chi thì gọi đó là Giáp bất trụ cách. Thí dụ: quẻ chiêm nhằm ngày Giáp Tý, Nguyệt tướng Hợi, giờ Tý.

Tam truyền của quẻ trên là Tý Hợi Tuất cũng thuộc về Liên châu khóa, nhưng Tý ở giữa Can Chi, Hợi lâm lên Chi và Tuất ăn thấu ra khỏi Chi, cho nên gọi là Giáp bất trụ cách, hay cũng gọi là Thấu xuất chi cách, vì đó có một chữ ăn ra ngoài khỏi Chi. Giáp bất trụ cách nghĩa là ép mà chẳng ở. như Tam truyền thuận là bởi tiến tới quá trớn, Tam truyền nghịch là bởi thoái lui quá trớn, nhưng tốt hay xấu là do điềm quẻ ứng ra, song thoái quá trớn thì thường chẳng kịp thời. Phàm Giáp bất trụ cách mà thấy có chữ ăn thấu ra bên ngoài Can thì gọi là Thấu xuất Can cách, nên động tác bên ngoài chứ chẳng nên hoạt động bên trong (Can vi ngoại, Chi vi nội). Bằng thấy có chữ ăn thấu ra ngoài Chi thì gọi là Thấu xuất Chi cách chẳng nên động tác bên ngoài vì sự việc sẽ bị hồi hoàn lại như cũ, thành ra uổng công. Cứ xem chữ thấu xuất ra ngoài Can hoặc Chi đó mà luận đoán. như chữ thấu xuất đó tác Quỷ là điềm tai họa, tác Tài: tiền tài bị phá hao…Lại xem coi nó thừa cát tướng hay hung tướng mà đoán lành hay dữ. Lại luận rằng: đã gọi là thấu xuất ra bên ngoài thì họa phúc cũng thường ứng ở bên ngoài.

Phàm Liên châu khóa mà thấy Sơ truyền hay Mạt truyền lâm Can thì gọi là Liên châu triều Can cách, bằng lâm Chi thì gọi là Liên châu triều Chi cách. Thí dụ: chiêm quẻ ngày Bính Dần, nguyệt tướng Tị, giờ Thìn.

Quẻ này Tam truyền Thìn Tị Ngọ liền cung nhau và Ngọ là Mạt truyền lâm Can cho nên gọi là Liên châu triều Can cách. Tam truyền từ xa mà truyền lại Can, vì khởi đầu là Sơ ngoài xa truyền đến Trung thì gần hơn, và từ Trung truyền tới

Mạt thì đúng tới Can. Phàm từ xa mà truyền lại tức như cố ý, cho nên sự thể trọng đại và họa phúc cũng rất nặng lại rất nhiều. Lại thí dụ: Quẻ chiêm nhằm ngày Đinh Mão, Nguyệt tướng Ngọ, giờ Tị thì thuộc về Liên châu triều Chi cách.

Tam truyền của quẻ trên là Thìn Tị Ngọ liền cung nhau và Sơ truyền Thìn lâm Chi cho nên gọi là Liên châu triều Chi cách. Sơ là chỗ khởi đầu lâm chi, tức là từ Chi mà truyền ra xa. Phàm tại Can Chi mà truyền ra xa thì sự thể tiêu khinh, họa phúc tất nhẹ và ít.

Triều nghĩa là chầu, hầu. Triều Can là chầu Can, triều Chi là chầu Chi. Liên châu triều Can hay triều Chi vốn ứng rằng họa phúc tự nhiên đến, không động mà đi, không cầu mà được, có tính cách bất ngờ, nhưng rất kỵ chiêm bệnh và sinh sản. Quẻ triều Can họa phúc quan hệ đến thân, còn quẻ triều Chi quan hệ đến nhà cửa.

Luận về tôn ti thì Can là hạng tôn trưởng, Chi là hạng ti hạ, vì thế nên Triều Can thuận lý hơn Triều Chi. Triều Can là kẻ dưới chầu người trên nên thuận lý, ứng điềm có lợi cho hàng Tôn trưởng. Còn quẻ Triều Chi cũng như người trên mà chầu kẻ dưới, ứng điềm có lợi cho hàng ti hạ. Nếu hàng Tôn trưởng chiêm gặp quẻ triều Chi thì chớ nên động tác sự chi mà mang họa, như Tam truyền vượng tướng khí còn khá, bằng hưu tù tử khí là điềm bị ép bức, hung hại nặng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *