Bài khóa 61: Huyền Thai Khóa

Phàm quẻ thấy Tam truyền toàn là Mạnh thần, tức không ngoài 4 chữ Dần Thân Tị Hợi thì gọi là Huyền thai khóa.

trích Lục Nhâm đại toàn / Bùi Ngọc Quảng

Quẻ này Tam truyền Thân Hợi Dần đều là Mạnh thần cho nên gọi là Huyền thai khóa.

Lý đoán Huyền thai khóa

Huyền thai là cái thai trong sự huyền diệu. Mạnh thần tức là Dần Thân Tị Hợi là 4 bà mẹ đẻ ra Ngũ hành, vì theo Trường sinh cục thì loại Mộc Trường sinh khởi tại Hợi, loại Hỏa Trường sinh khởi tại Dần, loại Kim Trường sinh khởi tại Tị, và 2 loại Thủy Thổ khởi tại Thân. Trường sinh là chỗ bắt đầu sinh ra vậy. Và theo cách tính Trường sinh cục thì Dần Thân Tị Hợi cũng ở 4 chỗ tuyệt, 4 chỗ thụ khí Âm Dương của Ngũ hành, bởi theo luật tự nhiên luân chuyển: vạn vật đến chỗ Tuyệt là bắt đầu thụ khí để phôi thai một sự sống mới. Vì thế nên kế tiếp sao Tuyệt là đến sao Thai.

Bây giờ tổng luận lại: Dần là chỗ sinh ra loại Hỏa và là ngôi của con Kim thụ khí, vì loại Kim Tuyệt tại Dần. Tị là chỗ sinh ra loại Kim và là ngôi của con Thủy Thổ thụ khí, vì loại Thủy Thổ thì Tuyệt tại Tị. Thân là chỗ sinh ra Thủy Thổ và là ngôi của con Mộc thụ khí vì loại Mộc thì Tuyệt tại Thân. Hợi là chỗ sinh ra loại Mộc và là ngôi của con Hỏa thụ khí, vì Hỏa thì Tuyệt tại Hợi. Vậy quẻ thấy Tam truyền toàn là Mạnh thần, toàn là những ngôi sinh sản, những ngôi thụ khí để phôi thai một cách rất huyền diệu, cho nên gọi là Huyền thai khóa.

Huyền thai khóa có lời tượng:

Tam truyền toàn là các ngôi thụ khí (Tuyệt) và Trường sinh, thai dựng ắt thành hình, chủ sự mới mẻ và bắt đầu thụ kết. Lợi cho người trên mà chẳng hay cho kẻ dưới. Sự việc xa xôi mà ẩn phục sâu kín. Quan nhân thêm ấn tước. Hôn nhân hiệp cùng mỹ nữ. Bệnh hoạn thưa kiện yểm lu. Tài lợi hưng phát liên tiếp và bền. Người đi chẳng lại. Tìm bắt chớ mong. Sự thể tối tăm không thông suốt, chạm đến tất sinh họa.

Huyền thai khóa là quẻ xuống biển tìm ngọc châu, có tượng là trổ bông kết trái (quẻ Phong Hỏa gia nhân).

Phàm Huyền thai khóa mà Tam truyền có Hỷ thần (1), Thiên hỷ cùng cát tướng thì đi xa được lợi, cầu công danh, cầu tài lộc trăm việc trăm hay, có tượng là: làm giàu cho nhà, tốt lớn. Rất an thuận ở tại địa vị của mình lắm vậy (quẻ Phong Hỏa gia nhân – Lục tứ).

Phàm chiêm bệnh cho trẻ nhỏ hay cho người già cả mà gặp Huyền thai khóa là điềm bị đầu thai kiếp khác. Hoặc như quẻ gặp Tam hình thừa ác sát và hung tướng là có sự lo buồn, nghi ngờ, kinh hoảng, nếu Sơ truyền tác Phụ mẫu thì người lớn trong nhà bị tai ương. Hoặc như thấy Sơ truyền và Can bị Hưu – tù – tử khí mà Sơ truyền tác Tử tôn ngộ Tuần không gọi là quẻ Huyền thai bất dục, ứng điềm hư thai. Hoặc Sơ truyền thừa Thiên hậu ngộ Tuần không là do có thai mà người mẹ hay đau yếu, buồn sầu. Các cách trong đoạn này đều bất lợi, có tượng là vợ con hớn hở, sau cùng tiếc giận (quẻ Phong Hỏa gia nhân – Cửu tam).

Phàm Huyền thai khóa mà thấy Can thai tác Thê tài thừa Sinh khí lâm Bản mệnh hay Hành niên là điềm chắc chắn Vợ thụ thai. Dù không là Huyền thai khóa, miễn quẻ thấy Sơ truyền tác Thê tài thừa Sinh khí và Can thai cũng ứng chắc Vợ thụ thai. Như tháng 4, ngày Canh Tân chiêm thấy Sơ truyền Mão tức thị Mão là Can thai tác Thê tài và thừa Sinh khí. như tháng 7 ngày Nhâm Quý chiêm thấy Sơ truyền là Ngọ tức thị Ngọ là Can thai tác Thê tài thừa Sinh khí. Như tháng Giêng ngày Mậu Kỷ thấy Sơ truyền là Tý, tức thị Tý cũng gọi là Can thai tác Thê tài thừa Sinh khí (Nên để ý: ngày Mậu Kỷ thì Ngọ là Can thai đã đành, nhưng đây lại nói Tý cũng là Can thai, ấy là một điều ngoại lệ cần nhớ vậy). Hoặc như Huyền thai khóa mà thấy Sơ truyền không phải là Can thai nhưng Sơ truyền tác Thê tài thừa Thiên hậu cũng có thể là điềm vợ hoài thai (không chắc lắm).

Huyền thai khóa Tam truyền toàn là Mạnh thần, những chỗ mà Ngũ hành được Trường sinh cho nên cũng gọi là quẻ Luyến sinh, nghĩa là được sinh dưỡng luyến mến, bởi vậy chiêm hỏi việc chi cũng bị trì hoãn, lại ứng điềm đạo tặc, muốn hành động mà lòng còn do dự, người muốn ra đi mà dạ còn lưu luyến, rốt cuộc lại thôi không đi. Như Sơ truyền là Dần gia Tị, hay Tị gia Thân, hay Thân gia Hợi, hay Hợi gia Dần thì đều gọi là Tấn bộ Trường sinh, sự việc có thể mau được. Lại cũng gọi là Bệnh thai, vì Sơ truyền gia Bệnh địa bàn (2), ứng điềm thụ thai mà bị bệnh. Gia bệnh tất ứng bệnh hoạn, lại thêm hưu khí cũng ứng bệnh hoạn. Bởi Dần gia Tị và sinh Tị thì Dần bị thoát khí tức bị hưu khí ( phàm bị hưu khí ứng đau ốm ). Thân gia Hợi hay Hợi gia Dần cũng thế. Duy Tị gia Thân thì Tị không bị hưu khí nhưng Tị ở trên khắc xuống Thân ở dưới là hại cho kẻ nhỏ, ắt thai nhi phải suy yếu làm cho người mẹ hoặc buồn hoặc bệnh (cũng đồng như hưu khí).

Như Sơ truyền là Dần gia Hợi hay Hợi gia Thân, hay Thân gia Tị, hay Tị gia Dần đều gọi là Thoái bộ Trường sinh, trăm việc đều bị chậm trễ. Lại cũng gọi là quẻ Sinh thai, vì chữ địa bàn sinh lên Sơ truyền. Và Sơ truyền được sinh nên thai nhi chịu sống trong bụng mẹ, nghĩa là đậu thai. Thế nên chiêm thai dựng mà gặp Sinh thai thì tốt hơn gặp Bệnh thai. Duy Sơ truyền Thân gia Tị không đáng gọi là Sinh thai, bởi Tị Thân tương khắc, lại Tị hình Thân. Thân gia Tị gọi là quẻ lo buồn, còn Tị gia Thân gọi là quẻ sợ sệt, đều là điềm có thai mà trong dạ chẳng yên. Huyền thai khóa mà có lẫn quẻ Phản ngâm thì gọi là Tuyệt Huyền thai, vì Sơ truyền gia Tuyệt địa bàn. Thí dụ: Sơ truyền Thân gia Dần tức Thân gia Tuyệt vì Thân kim Tuyệt tại Dần. Như Dần gia Thân, Tị gia hợi, Hợi gia Tị đều là Tuyệt Huyền thai.

Như Sơ truyền thừa Quý Tước Long cùng Tứ mã (3) là quẻ được may mắn trong vụ thi cử, tiến cử. Nếu có thêm Can lộc mà quan nhân chiêm ắt được tấn quan, thật tốt. Còn hạng tiểu nhân phúc đức cạn mỏng mà chiêm gặp Sơ truyền thừa Tước Mã ắt bị kiện tha hoặc bệnh hoạn.

Ngày Bính chiêm mà thấy Sơ truyền là Hợi gia Thân tất có sự khắc hại, vì Hợi tác Quỷ và Hợi với Thân là Lục hại, điềm lâm họa hoạn, nếu có thừa Tước Câu Vũ nữa thì phải chịu tới 4, 5 sự hại.

Ngày Hợi chiêm mà thấy Sơ truyền Tị gia Thân là trong sự hợp có Hình, Xung, Phá vì Tị với Thân tuy tác Lục hợp, tốt nhưng Tị cũng hình Thân, Tị cũng Xung với Chi Hợi, và Tị với Thân cũng tác thành Lục Phá. Ấy là quẻ không hay, sự được rất ít ỏi, duy hỏi việc xuất hành thì tốt.

Như Sơ truyền là Can sinh ứng điềm phụ nhân sinh sản và như Hành niên thừa Thanh long thì sinh trai, thừa Thiên hậu hay Huyền vũ thì sinh gái, thừa Đằng xà có sự kinh sợ, thừa Bạch hổ tổn thương, Thái âm sinh khó, Câu trận lâm nguy, Chu tước hay Thiên không thì sắp xổ lòng (sắp sinh).

Như Sơ truyền thừa Thiên hậu cũng điềm hoài thai, thừa Thái thường mà chiêm bệnh là chứng đau máu, thừa Thái âm là chứng thương huyết. Nếu chiêm bệnh cho hàng phụ nhân mà gặp quẻ như vậy thì thường là do trong lúc đang sinh sản mà bị bệnh, còn chiêm về bệnh cho Nam nhân là chứng thương khí (Nữ bệnh về huyết, Nam bệnh về khí). Lại luận chung rằng: Chiêm bệnh gặp Thái âm, Thái thường hay bị xung huyết, chiêm quan sự tự mình lâm nguy. Chiêm bệnh mà thấy Tị thừa Thanh long cũng chẳng tốt, vì Tị tức Đằng xà chủ sự tang, bệnh, khẩu thiệt, chôn cất, cùng những việc có máu lửa. Còn Thanh long là vì cuộc hoan lạc, ẩm thực mà mang bệnh.

Phàm quẻ thấy Tam truyền thuận (Tị Thân Hợi Dần) là thuận đạo. Nhằm mùa Xuân: ý sống dồi dào, cỏ non nảy lộc. Mùa Hạ có ý cố gắng mà khởi lên, cơ quan đã phát lộ một ít. Mùa Thu như thú đực rong ruổi không ngừng. Mùa Đông toàn phúc đức, dừng hay tiến, tịnh hay động đều thông đạt.

Phàm quẻ thấy Tam truyền nghịch (Hợi Thân Tị Dần) là điềm nghịch bội. Mùa Xuân trước siêng cần mà sau lại trễ nản. Mùa hạ như chở nặng nhưng quyền hành được trung chính. Mùa Thu ngậm chứa sự nghĩa, trong chỗ không mà sinh ra cái có. Mùa Đông đem đến khánh lạc, hân hoan, việc đang u tối lần lần được sáng lạn thêm lên mãi, cứ tự nhiên theo đường lối thông thường mà phát đạt, chẳng cần gấp, chẳng nên hấp tấp.


Chú thích

  1. Hỷ thần: mùa Xuân tại Tị, mùa Hạ tại Tý, mùa Thu tại Dậu, mùa Đông tại Thìn.
  2. Gia bệnh địa bàn: lấy chữ thiên bàn đối với chữ địa bàn mà tính theo Trường sinh cục. Thí dụ: Dần gia Tị là Dần gia Bệnh, bởi Dần thuộc Mộc khởi Trường sinh tại Hợi, rồi tính thuận tới thì Mộc dục tại Tý, Quan đới tại Sửu…Bệnh tại Tị.
  3. Tứ mã: là tính Dịch mã cho 4 thời: Năm Tháng Ngày Giờ. Theo ở Huyền thai khóa thì Dịch mã tính theo Tháng và Ngày quan trọng hơn Năm và Giờ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *