Bài khóa 30: Bế Khâu khóa

Phàm quẻ thấy Tuần Vĩ thiên bàn gia Tuần Thủ địa bàn thì gọi là Bế khâu khóa. Hoặc thấy Huyền vũ thừa Tuần Thủ thiên bàn, hay Huyền vũ lâm Tuần thủ địa bàn cũng gọi là Bế khâu khóa, nhưng Huyền vũ được dụng làm Sơ truyền thì quẻ được chính đáng hơn.

trích Lục Nhâm đại toàn / Bùi Ngọc Quảng

Lời giải: Tuần Vĩ tức là tuần đuôi, là tên của ngày sau chót trong 10 ngày của Tuần giáp hiện tại. Tuần thủ nghĩa là tuần đầu vì nó là tên của ngày đứng đầu trong mỗi tuần giáp 10 ngày. Tuần vĩ cũng gọi là tuần Quý và Tuần thủ cũng gọi là Tuần Giáp, bởi tuần Quý là tên của ngày có can Quý, còn tuần Giáp là tên của ngày có can Giáp. Mỗi Tuần giáp nào cũng có 10 ngày, vậy phải biết ngày hiện tại đang chiêm quẻ thuộc về tuần Giáp nào để tính Tuần thủ và Tuần vĩ. Phàm ngày hiện tại thuộc về:

  • 10 ngày của Tuần giáp Tý thì Tý là Tuần thủ, Dậu là Tuần vĩ.
  • 10 ngày của Tuần giáp Tuất thì Tuất là Tuần thủ và Mùi là Tuần vĩ.
  • 10 ngày của Tuần giáp Thân thì Thân là Tuần thủ và Tị là Tuần vĩ.
  • 10 ngày của Tuần giáp Ngọ thì Ngọ là Tuần thủ và Mão là Tuần vĩ.
  • 10 ngày của Tuần giáp Thìn thì Thìn là Tuần thủ và Sửu là Tuần vĩ.
  • 10 ngày của Tuần giáp Dần thì Dần là Tuần thủ và Hợi là Tuần vĩ.

Thí dụ: trong tuần Giáp Tý thì Tý là Tuần thủ và Dậu là Tuần vĩ. Vậy Tý thiên bàn là Tuần thủ thiên bàn, Tý địa bàn là Tuần thủ địa bàn và Dậu thiên bàn là Tuần vĩ thiên bàn, Dậu địa bàn là Tuần vĩ địa bàn.

Ngày Bính Thìn là 1 trong 10 ngày của tuần thủ giáp Dần, vậy Dần là Tuần thủ và Hợi là Tuần vĩ. Quẻ này Sơ truyền Hợi gia Dần, ấy là Tuần vĩ thiên bàn gia Tuần thủ địa bàn, cho nên gọi là Bế khâu khóa.

Mẫu quẻ 2: ngày Đinh Dậu, nguyệt Mùi, giờ Tuất.

Ngày Đinh Dậu thuộc về tuần Giáp Ngọ tất Ngọ là Tuần thủ. Quẻ này Huyền vũ thừa Ngọ thiên bàn tức thừa Tuần thủ thiên bàn và Huyền vũ cùng Ngọ được dùng làm Sơ truyền, ấy là Bế khâu khóa.

Lý đoán Bế khâu khóa

Bế khâu nghĩa là ngậm miệng. Vì sao gọi là ngậm miệng? Bởi Vĩ là cái đuôi và Thủ là cái đầu, Tuần Vĩ gia Tuần Thủ tức là lấy cái đuôi chắp lên đầu (ví như con rắn nằm khoanh thành một vòng tròn không có chỗ hở) nên gọi là Bế khâu, là ngậm miệng. Lại nói Huyền vũ thừa Tuần Thủ thiên bàn hoặc lâm Tuần Thủ địa bàn cũng gọi là Bế khâu khóa. Bởi sao? Bởi Huyền vũ cũng đồng một tượng lý với Tuần Vĩ. Trong Tuần Giáp nào cũng vậy, tuần Vĩ vốn là vị thần (Chi) ở sau cùng có kèm ở trước can Quý, Quý nghĩa là cuối, sau chót, tức như cái đuôi. Vậy tuần Vĩ cũng chính là tuần Quý, và can Quý với Huyền vũ đồng thuộc âm thủy như nhau. Suy thế thì Huyền vũ không khác chi Tuần Vĩ, vậy Huyền vũ gặp Tuần Thủ cũng như Tuần Vĩ gặp tuần Thủ, cho nên cũng gọi là Bế khâu khóa.

Bế khâu khóa có lời tượng:

Bít miệng tức là không nói, không có lời thông thương, cho nên: Sự tích khó rõ. Người mình tìm đã ẩn lánh. Vật mất bặt tăm. Các vụ tìm tòi mất trốn, hỏi han…dẫu có kẻ biết thấy họ cũng không chỉ cho. Cầu người chẳng chịu giúp. Oan ức không tố giác được. Thai dựng đẻ con câm, ngọng. Biện luận chẳng rành, thưa kiện thất lý. Bệnh là chứng đàm khí chặn nghẹt hoặc cứng hàm, nói ú ớ hoặc bí tiểu tiện, hoặc không ăn được.

Bế khâu khóa là quẻ trên dưới tối mờ đều mông lung. Cũng gọi là quẻ trong đất có núi, có tượng là ngẩng cao mà thành thấp (Quẻ Địa Sơn Khiêm).

Phàm ở Bế khâu khóa mà ở Tam truyền thấy có sao Thiên hợp như chiêm việc tốt ắt tốt, bằng hỏi việc xấu chẳng khỏi xấu, vì quẻ Bế khâu và sao Thiên hợp đều có tính kết hợp lại, không cho thoát ra, vậy nên hỏi điều tốt ắt kết điều tốt, bằng hỏi điều xấu ắt kết sự xấu vậy. Lại cứ do tính chất của Thiên tướng thừa Tuần vĩ mà đoán sự bất thông của mỗi việc. Như thấy Quý nhân là điềm cầu Quý nhân chẳng chịu giúp. Thấy Chu tước là điềm văn thơ bất thông, kiện tụng thất lý. Thấy Bạch hổ là điềm người đi sứ hoặc kẻ đem tin bởi không rành đường lối về lệ luật mà mang tội…

Phàm chiêm bệnh mà thấy Sơ truyền là Tuần Vĩ gia Tuần Thủ, lại có thừa Can Lộc thì bệnh thêm nặng, vì không ăn Lộc được nữa, nếu quẻ ấy lại là quẻ Vô lộc khóa, bệnh nhân ắt chết. Và nếu như chiêm bệnh không đợi Tuần vĩ gia Tuần Thủ, chỉ thấy Sơ tuyền thừa Can lộc và gia lâm Tuyệt hương cũng đã ứng điềm vì không ăn được nữa mà chết, thêm gặp Vô lộc khóa càng chắc. Như ngày Tân Mùi mà quẻ thấy Tý gia Tị là Vô lộc khóa, có Sơ truyền Dậu thừa Can lộc lâm Dần tức gia lâm Tuyệt hương (Dậu thuộc Kim tất Tràng sinh tại Tị và Tuyệt tại Dần).

Phàm quẻ thấy Tuần Vĩ thiên bàn lâm Can và Tuần Thủ thiên bàn lâm Chi hoặc đổi lại Tuần Thủ thiên bàn lâm Can và Tuần Vĩ thiên bàn lâm Chi thì gọi là Nhất tuần châu biến cách, sự ứng cũng như Bế khâu khóa: hỏi việc tốt sẽ kết quả tốt, hỏi việc xấu sẽ kết quả xấu, thi cử nên đổi bút (đây là người thi hộ), kiện tụng nên đổi Ty, Mua bán rất tốt vì hành khách có cớ lại, tật bệnh khó lui, buồn lo khó giải…Thí dụ ngày Ất Mùi mà thấy Tý gia Sửu ắt có Tuần Thủ là Ngọ lâm Chi Mùi và Tuần Vĩ là Mão lâm Can ất, ấy là Nhất tuần châu biến cách.

Phàm ngày âm mà chiêm gặp Nhất tuần châu biến cách lại thấy Sơ truyền thừa Huyền vũ thì gọi là Sát gian cách, nghĩa là xét kẻ gian, rất tốt về chiêm bắt đạo tặc.


Bài phụ: Tầm nhân, tróc tặc pháp.

Tầm nhân là tìm người, tróc tặc là bắt giặc, pháp là phép. Ấy là phép tính cho biết phương hướng để tìm người đã đi, đã trốn, hoặc tìm vật đã mất. Trong phép tính phải tùy theo hạng người Quý hay Tiện, hoặc Nam hay Nữ, hoặc người chính đáng hay người bất chính. Lại phải để ý có khi dùng theo chữ thiên bàn, có khi dùng theo cung địa bàn.

Tầm quân tử pháp:

Ấy là cách tính để tìm người thuộc hạng thượng lưu, tức là hạng quan chức, có địa vị giàu sang, không luận về tâm địa tốt xấu. Phàm muốn tìm người quân tử thì xem Can đức lâm tại cung địa bàn nào thì hãy theo hướng của cung địa bàn ấy mà tìm ắt gặp. Thí dụ ngày Giáp tất Dần thiên bàn là Can đức, như thấy Dần mà lâm Ngọ địa bàn thì đi tìm ngay hướng Ngọ (chính Nam) như thấy Dần lâm Hợi địa bàn thì đi về hướng Hợi là hướng Tây Bắc mà tìm….

Tầm tiểu nhân pháp:

Ấy là cách tính phương hướng để đi tìm người thuộc về hạng hạ lưu, thường dân. Phàm muốn tìm người hạ lưu phải xem Chi hình lâm cung địa bàn nào, hãy đi theo hướng của cung địa bàn ấy mà tìm ắt gặp. Thí dụ: ngày Thân chiêm quẻ tất Tị thiên bàn là Chi hình. Như thấy Tị lâm Thân địa bàn thì đi về hướng Thân tức Tây nam mà tìm, như Tị lâm Dần địa bàn thì đi về hướng Dần là Đông Bắc mà tìm…. Có khi Can đức và Chi hình đồng ở một cung, ắt người quân tử và kẻ tiểu nhân có quan hệ với nhau mà chung chạ ẩn thân. Thí dụ: ngày Bính thân tất Tị là Can đức mà cũng lại là Chi hình, vậy Tị lâm cung địa bàn nào thì đi theo hướng của cung địa bàn ấy mà tìm tất gặp người quân tử và tiểu nhân đang ở chung nhau.

Dị tầm hay Nan tầm:

Nghĩa là dễ tìm hay khó tìm? Phàm thấy Can đức khắc Chi hình thì tìm dễ gặp, như ngày Nhâm Thân tất Can đức là Hợi khắc Chi hình là Tị. Nếu Chi hình khắc Can đức thì khó tìm gặp. Như ngày Nhâm Tuất tất Chi hình là Sửu (Mùi?) khắc Can đức Hợi.

Lại như tìm người quân tử mà thấy Can đức cùng địa bàn tương khắc cũng dễ gặp, bằng tương sinh hay tỷ hòa thì khó gặp. Thí dụ: ngày Ất chiêm quẻ tất Thân là Can đức, nếu Thân lâm Tị Ngọ Dần Mão là tương khắc. Bằng Thân lâm Thìn Tuất Sửu Mùi hay lâm Hợi Tý là tương sinh. Bằng Thân lâm Thân hay lâm Dậu là Tỷ hòa vì đồng thuộc một loại Kim.

Lại như tìm hạng ty hạ, thường dân mà thấy Chi hình cùng địa bàn tương khắc thì dễ gặp, bằng tương sinh hay tỷ hòa thì khó gặp. Thí dụ: ngày Thân chiêm quẻ tất Tị là Chi hình, như Tị lâm Thân lâm Tý là tương khắc, lâm Dần lâm Sửu là tương sinh, bằng lâm Ngọ là Tỷ hòa.

** Nếu trong quẻ thấy Can đức với Chi hình không tương khắc thì nên xoay qua cách khác để tìm như sau đây, nhưng không phân ra hạng quân tử và tiểu nhân, mà lại phân Nam Nữ và Đạo tặc:

Tầm Nữ nhân:

Phàm muốn tìm người đàn bà, con gái cứ xem Huyền vũ lâm cung địa bàn nào thì đi về hướng của cung ấy mà kiếm ắt gặp. Như cung địa bàn ấy là Tý thì đi về hướng Tý (Bắc), là Sửu thì đi về hướng Sửu (Đông Bắc) vvv.

Tầm Nam nhân hay Đạo tặc:

Phàm muốn tìm người đàn ông con trai hay tìm bắt trộm cướp phải theo hướng của chữ thiên bàn có thừa Huyền vũ. Như chữ thiên bàn ấy là Dậu thì đi về hướng Tây, là Hợi thì đi về hướng Tây Bắc vvv.

Tóm lại:  Tìm Nữ nhân, Nam nhân hay Đạo tặc đều phải do cung có thừa Huyền vũ, nhưng tìm nữ nhân phải do chữ Địa bàn, còn tìm Nam nhân và Đạo tặc thì phải do chữ thiên bàn. Cứ theo phương của hai chữ ấy mà tìm. Thí dụ: quẻ thấy Huyền vũ lâm Thìn địa bàn có thừa Dậu thiên bàn, vậy tìm nữ nhân thì đi về hướng Thìn (Đông Nam), còn tìm Nam nhân hay Đạo tặc thì đi về hướng Dậu (chính Tây).

Nhưng nên nhớ kiêng có 4 ngày: Giáp Tý, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Dần thì không theo lối trên mà tìm Nam nhân hay đạo tặc. Cứ tại cung có an sao Huyền vũ kể là một rồi đếm nghịch tới cung thứ tư coi gặp cung địa bàn nào thì đi về hướng của chữ địa bàn ấy mà tìm bắt. Thí dụ ngày Giáp Thân mà quẻ thấy Tý gia Thìn tất Huyền vũ tại Thân địa bàn, kể một tại Thân đếm nghịch tới cung thứ tư tức gặp Tị địa bàn, vậy đi tìm ở hướng Tị (Đông Nam).

Lại nên nhớ: Ở sách nói như sau: Tìm Nữ nhân do hướng địa bàn có thừa Huyền vũ dương thần (tức là Huyền vũ thừa thần là chữ thiên bàn có thừa Huyền vũ), còn tìm Nam nhân hay Đạo tặc do hướng địa bàn có thừa Huyền vũ âm thần. Tuy cách nói có khác nhưng khi tính ra rồi vẫn y nhau.

Tặc cầm bất cầm:

Ấy là cách tính để coi có thể bắt được giặc cướp hay không.

Phàm quẻ thấy Tam truyền thượng hạ tương sinh thừa cát tướng thì không tìm bắt được, bằng thấy Tam truyền thượng hạ tương khắc thừa hung tướng, hoặc Câu trận thừa thần khắc Huyền vũ thừa thần thì tìm bắt ắt được.

Hoạch nhân Chi kỳ pháp:

Ấy là cách tính cho biết thời gian nào tìm gặp người đã trốn lánh. Phàm đến Ngày Giờ nào khắc Huyền vũ thừa thần ấy là Ngày Giờ tìm bắt được kẻ đào tẩu. Thí dụ: Huyền vũ thừa Sửu thiên bàn thì đến ngày hoặc giờ Dần Mão gặp, vì Dần Mão thuộc mộc khắc Sửu thổ.

Hoạch vật chi kỳ pháp:

Phàm đến ngày nào khắc Huyền vũ âm thần là thời kỳ tìm thấy lại được vật do mình đánh rơi, hoặc do kẻ trộm lấy cắp đem dấu. Như Huyền vũ âm thần là Dần thì đến Ngày hoặc Giờ Thân Dậu ắt tìm thấy được, vì Thân Dậu thuộc Kim khắc Dần thuộc mộc.

Tầm thất vật pháp:

Ấy là cách tính cho biết phương hướng, nơi nào để đi tìm vật đã mất. Phàm Huyền vũ âm thần sinh loại nào thì đi tìm ở những nơi có loại ấy tất gặp vật đã mất… Như Huyền vũ âm thần là Mão thuộc mộc, mà Mộc vốn sinh Hỏa, vậy tìm ở những nơi có đốt lửa như lò, bếp. Như Huyền vũ âm thần là Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ, mà thổ vốn sinh kim, vậy tìm ở những nơi nào có loại kim khí như sắt, đá, sành sỏi hoặc ở các hố sâu, hang thẳm. Như Huyền vũ âm thần là Thân Dậu thuộc kim mà Kim vốn sinh thủy, vậy tìm ở nơi có nước ẩm thấp. Như Huyền vũ âm thần là Hợi Tý thủy mà thủy vốn sinh Mộc, vậy tìm vật ở những nơi có cây, rừng bụi, bọng cây, bàn ghế. Như Huyền vũ âm thần là Tị Ngọ thuộc Hỏa mà Hỏa vốn sinh Thổ, vậy nên tìm ở những nơi gò đống dưới đất trong cát.

Tóm lại:  Trong bài phụ Tầm nhân tróc tặc pháp, theo sự kinh nghiệm của tôi thì phải phân ra hai hạng người mà đi tìm: hạng người chính đáng và hạng người bất chính (như trộm cướp). Hạng người chính đáng là bậc thượng lưu thì do hướng địa bàn có thừa Can đức, còn bậc thường dân hạ lưu thì do hướng địa bàn có thừa Chi hình. Hạng người bất chính như trộm cướp mà là người Nữ thì do hướng của chữ địa bàn có thừa Huyền vũ, còn người Nam thì do hướng của chữ thiên bàn có thừa Huyền vũ. ở trường hợp muốn tìm bắt đạo tặc nhưng không biết họ là Nam hay Nữ cứ do hướng của chữ thiên bàn có thừa Huyền vũ mà đi. ở khoảng Tầm Nam nhân hay Đạo tặc bất cứ là Nam Nữ cứ do hướng của chữ thiên bàn có thừa Huyền vũ, còn theo tôi: Phàm là đạo tặc mà biết rõ là người Nữ phải do hướng của chữ địa bàn có thừa Huyền vũ.

Sau đây là quẻ kiểu mẫu có giải đoán đủ các cách tìm người, tìm vật, bắt trộm cướp, hạn định ngày giờ, chỗ đi tìm:

Mẫu quẻ:

Ngày Ất Mão, Nguyệt tướng Tuất, giờ Thìn.

Lời giải:

Ất tất Thân là Can đức. Trong quẻ Thân lâm Dần địa bàn, vậy đi hướng Dần là hướng đông Bắc mà tìm hạng người thượng lưu. Thân gia Dần là tương khắc, ắt tìm người hạng thượng lưu để gặp. Ngày Mão tất Tý là Chi hình, quẻ này Tý lâm Ngọ địa bàn phải đi hướng Ngọ là hướng chính Nam mà tìm hạng người hạ lưu. Huyền vũ lâm Dậu địa bàn, vậy nên đi hướng Dậu là hướng chính Tây mà tìm người Nữ. Huyền vũ thừa Mão Thiên bàn, vậy nên đi hướng Mão là hướng chính Đông mà tìm Nam nhân hay tìm hạng trộm cướp. Tam truyền toàn là Mão gia Dậu và Dậu gia Mão, ấy là thượng hạ tương khắc, lại Câu trận thừa thần là Thân khắc Huyền vũ thừa thần là Mão (Thân kim khắc Mão mộc) cho nên có thể tìm bắt được đạo tặc. Huyền vũ thừa thần là Mão, vậy đến kỳ hạn ngày Thân Dậu hay giờ Thân Dậu thì tìm gặp người mình muốn kiếm, vì Thân Dậu khắc Mão. Huyền vũ âm thần là Dậu, vậy đến giờ Tị Ngọ hay đến giờ Tị Ngọ thì tìm lại được vật đã mất, vì Tị Ngọ thuộc Hỏa khắc Dậu kim. Huyền vũ âm thần là Dậu kim, mà kim tất sinh thủy cho nên những chỗ nào có nước và ẩm thấp như vũng nước, ao bùn, đáy giếng...mà tìm vật đã mất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *