Bài khóa 3: Tri nhất khóa

Tri nhất khóa – tặc cách:

  • Quẻ chiêm ngày Dương, mà trong Tứ khóa thấy có nhiều khóa Tặc, trong những chữ trên của các khóa Tặc ấy, chỉ có một chữ thuộc Dương mà thôi, thì dùng chữ thuộc Dương đó làm Sơ truyền, gọi là Tri nhất khóa.
  • Quẻ chiêm ngày Âm, mà trong Tứ khóa thấy có nhiều khóa Tặc, trong các chữ trên của các khóa Tặc ấy, chỉ có một chữ thuộc Âm mà thôi, thì dùng chữ thuộc Âm đó làm Sơ truyền, gọi là Tri nhất khóa.
  • Cách lấy Trung truyền và Mạt truyền giống như Nguyên thủ khóa.

Tri nhất khóa – khắc cách:

  • Quẻ chiêm ngày Dương, trong Tứ khóa không có khóa Tặc, lại thấy có nhiều khóa Khắc, trong các chữ trên của các khóa Khắc đó, chỉ có một chữ thuộc Dương mà thôi, thì dùng chữ thuộc Dương ấy làm Sơ truyền, gọi là Tri nhất khóa.
  • Quẻ chiêm ngày Dương, trong Tứ khóa không có khóa Tặc, lại thấy có nhiều khóa Khắc, trong các chữ trên của các khóa Khắc đó, chỉ có một chữ thuộc Dương mà thôi, thì dùng chữ thuộc Dương ấy làm Sơ truyền, gọi là Tri nhất khóa.
  • Cách lấy Trung truyền và Mạt truyền giống như Nguyên thủ khóa.
trích Lục Nhâm đại toàn / Bùi Ngọc Quảng

Trong Tứ khóa của quẻ này không có khóa Tặc, lại có 2 khóa Khắc là Khóa nhất và Khóa tam, chữ trên của Khóa nhất là Tuất thuộc dương, còn chữ trên của Khóa tam là Mão thuộc âm, như vậy phải trọn một chữ để làm Sơ truyền gọi là Tri nhất khóa.

Lấy Sơ truyền: ngày Nhâm thuộc Dương, trong các chữ trên của các khóa Khắc, chỉ có Tuất là một chữ thuộc Dương, vậy dùng Tuất làm Sơ truyền, Tuất thổ khắc Can ngày Nhâm thuỷ nên Tuất là hào Quan quỷ thừa sao Bạch Hổ.

Lấy Trung truyền: Sơ truyền là Tuất thì cũng phải tìm cung Tuất, nhưng là cung Tuất địa, trên cung Tuất địa này có thừa chữ thiên bàn là Dậu, vậy dùng Dậu làm Trung truyền, Dậu kim sinh Can ngày Nhâm thuỷ nên là hào Phụ mẫu thừa sao Thái thường.

Lấy Mạt truyền: Trung truyền là Dậu thì phải tìm cung Dậu, nhưng là cung Dậu địa, trên cung Dậu địa thấy có chữ thiên bàn là Thân, vậy dùng Thân làm Mạt truyền, Thân kim sinh Nhâm thuỷ nên là hào Phụ mẫu thừa Huyền vũ.

Sơ truyền là Tuất tác Quan thừa Bạch Hổ là điềm bị tôi tớ trong nhà khởi tai họa, vì Tuất là hạng nô bộc, Quỷ là hào ứng về họa hoạn, Bạch Hổ là hung tướng thường gây ra đủ mọi thứ tai ương.

Trong Tam truyền Tuất – Dậu – Thân có 2 chữ thuộc Dương là Tuất và Thân, còn Dậu thuộc âm, thì dùng Dậu làm Chủ truyền. Vậy Trung truyền Dậu làm Chủ truyền tác Phụ mẫu thừa Thái thường thì ứng điềm: người đến chiêm vận mệnh bị cái họa tôi tớ đánh cắp (do Sơ truyền) có liên quan đến phụ nữ làm việc gian giấu (Bởi có Dậu tượng sao Thái âm), việc này có quan hệ tới người lớn cùng sinh kế (hào Phụ mẫu), việc mất này là y phục hay vải lụa (sao Thái thường).

Mạt truyền Thân tác Phụ mẫu thừa Huyền vũ là kẻ trộm chuyển đem đồ vật trộm cắp đi nơi khác, nhưng người mất có thể tìm lại được. Bởi Thân là thần Truyền tống chủ sự trao truyền, Huyền vũ là sao chủ về đạo tặc là kẻ trộm. Mùa Thu thì Thân kim vượng khí, Tam truyền là Kim cục cũng vượng khí, cho nên thời vận mất của còn thịnh vượng, còn tìm lại được, và Huyền vũ thừa Phụ mẫu cũng là cách tốt riêng biệt về danh lợi.

Kẻ trộm ở hay ẩn gần nhà, vì quẻ Tri nhất khóa vốn ứng lân cận, Sơ truyền Tuất thuộc Tây Bắc, và Chủ truyền Dậu thuộc chính Tây, nên kẻ trộm ở về 2 hướng gần nhau đó. Huyền vũ âm thần là Mùi thuộc Thổ sinh Kim, vậy tìm vật mất ở nơi có loại kim khí như đống sắt, đống đá sỏi, hay ở chỗ trũng, ngõ sâu… đến ngày Mão hay giờ Dần Mão thì tìm thấy được, vì Dần Mão thuộc mộc khắc Huyền vũ âm thần là Mùi thổ.

LÝ ĐOÁN TRI NHẤT KHÓA

Tri nhất tức là trọn một, trong Tứ khóa thấy có nhiều khóa Tặc hay nhiều khóa Khắc, thì phải chọn Khóa nào có chữ trên đồng thuộc một loại Âm hay Dương với Ngày hiện tại chiêm quẻ để làm Sơ truyền. Sự trọn lựa như vậy gọi là Tri nhất.

Hai ba chỗ đồng một loại giống nhau, tất phải chọn chỗ nào đồng một loại để mà dùng. Cho nên, ngày dương thì trọn chữ trên nào thuộc Dương, ngày Âm thì trọn chữ trên nào thuộc Âm. Nhưng nên nhớ đó là ở trường hợp ngày Dương mà chỉ có một chữ trên thuộc Dương, hoặc ngày Âm mà chỉ có một chữ trên thuộc Âm mà thôi. Còn như ngày Dương mà có nhiều chữ trên thuộc Dương, hoặc các chữ trên đều thuộc Âm, hay là ngày Âm mà có nhiều chữ trên đều thuộc Âm, hoặc các chữ trên đều thuộc Dương, thì cách chọn có khác, vì như vậy nó đã thuộc về Thiệp hại khóa.

TRI NHẤT KHÓA CÓ LỜI TƯỢNG

Trăm việc đều nên hòa thì vui tốt, nếu không hòa thì sẽ sinh ra ưu lo, sự việc thường có hai lối, lòng rất đỗi hoài nghi mà phải trọn lấy một. Họa do bên ngoài dấy lên. Binh chiến thì lợi chủ mưu. Kiện tụng nên hòa. Người đi hay của mất đều ở lân cận, ở gần. Mưu sự không ẩn khuất, hướng về lối minh bạch.

Tri nhất khóa là quẻ bỏ nịnh mà trọn dùng người hiền. Cũng còn gọi là quẻ các Tinh tú chầu vào sao Bắc đẩu, có tượng: nước chẩy trên đất (quẻ Thuỷ Địa Tỷ), sau cuộc chiến tranh lâu dài, mọi người sẽ hòa khí, thân mật với nhau, tượng trưng cho mối quan hệ qua lại hỗ trợ mật thiết.

Gặp quẻ Tri nhất khóa: điều cần thiết là phải biết đoàn kết với người khác, để hỗ trợ, tin cậy lẫn nhau. Sự liên thông như vậy đòi hỏi phải có một nhân vật trung tâm gắn bó, quy tụ mọi người một cách tự nguyện, không có cưỡng ép. Trở thành một nhân vật trung tâm, ngôi vị lãnh đạo như vậy là việc gay go đầy trách nhiệm, đòi hỏi tinh thần đại lượng, bao dung, thuỷ chung như một, nhân cách mạnh mẽ. Hơn nữa đòi hỏi phải có thành tích rõ rệt (Tỷ: Cửu Ngũ). Người muốn quần tụ kẻ khác chung quanh mình, cần phải tự hỏi mình có hội đủ điều kiện gánh vác trách nhiệm hay không, nếu lực bất tòng tâm thì lại rất tệ hại, trở thành tai họa. Đó là quẻ khi Can, Hành niên, Bản mệnh bị hưu-tù-tử khí hoặc ngộ Tuần.

Trong vấn đề đoàn kết với nhau, đúng lúc, đúng thời cơ là cực kỳ quan trọng. Nếu do sự chậm trễ đến sau mà không chia sẻ được kinh nghiệm ban đầu thì phải chịu thiệt thòi, vì thời cơ tốt đẹp đã mất, bị khốn cùng, dữ (Tỷ: Thượng Lục), là quẻ có Sơ truyền là chữ trên của khóa Tặc, ứng điềm nhiều tai ương, tai họa thường do Thê thiếp hay tiền tài, hoặc bị khẩu thiệt.

Sự khởi đầu không đúng, thì đừng hy vọng vào sự kết thúc tốt lành. Đó là quẻ Tri nhất khóa mà trong Tứ khóa có tới ba bốn khóa Tặc hay ba bốn khóa Khắc. Lúc này quẻ biến thành Đô ách khóa hay Vô lộc tuyệt tự khóa, quẻ như vậy ứng điềm quá hung, gặp nhiều loạn động, hồ nghi… dù được thân hoà nhau, nhưng không có đầu mà cũng chẳng đến chót.

Sơ truyền là chữ trên của khóa Khắc thì thường bị bạn hữu bài xích, gièm xiểm, vì thân mật phụ hoạ theo kẻ có hành vi bất chính. Sự thể nhẹ hơn Sơ truyền là chữ trên của khóa Tặc (Tỷ: Lục tam).

Hoàn cảnh của Tri nhất khóa có sự thể bỏ xa tìm gần, bỏ sơ dùng thân trong một liên thông đông người. Việc động sự luôn luôn có hai ba chiều hướng, mà phải trọn lấy một vì không thể đứng sau người khác, nếu đứng sau sẽ rước lấy tai hại là tiến thoái đều trắc trở, nảy sinh tai họa. Tri nhất khóa cũng có tượng người đàn ông có thể dụ dỗ rất nhiều người đàn bà, do vậy phụ nữ gặp quẻ này là tình thế nghiêm trọng bị bỏ lại phía sau thành dữ. Người gặp quẻ này trong lòng không yên.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *